Tìm hiểu thông số trong ống kính camera quan sát
Tính toán theo đơn vị đo lường Feet
Chiều rộng của vật thể thu được khi dùng một camera với cảm biến CCD ¼” và lens có tiêu cự là 4mm ở khoảng cách quan sát 10 feet sẽ là bao nhiêu ?
Câu trả lời: H = D x h / f = 10 x 3.6 / 4 = 9 feet
Tính toán theo đơn vị đo lường mét
Chiều rộng của vật thể thu được khi dùng một camera với cảm biến CCD ¼” và lens có tiêu cự là 4mm ở khoảng cách quan sát 3m sẽ là bao nhiêu ?
Câu trả lời: H = D x h / f = 3 x 3.6 / 4 = 2.7m
Kiếu lens
Fixed lens: Chiều dài tiêu cự là cố định, ví dụ: 4 mm
Varifocal lens: Kiểu lens này cho phép điều chỉnh chiều dài tiêu cự thấu kính(đồng nghĩa với góc quan sát) bằng tay. Khi mà chiều dài tiêu cự bị thay đổi, ta cần lấy nét lại cho ống kính. Đa số ống kính kiểu này có dải tiêu cự 3.5~8mm
Zoom lens: Chiều dài tiêu cự có thể được điều chỉnh trong một khoảng, ví dụ từ 6~48mm mà không cần quan tâm đến việc lấy net. Ống kính có thể được chỉnh bằng tay hoặc bằng motor, vì thế có thể được điều khiển từ xa.
Iris
Nhìn chung thì các network camera điều chỉnh lượng ánh sang đi vào cảm biến hình ảnh thông qua iris hay điều chỉnh bằng thời gian cảm biến phơi sáng. Trong các camera truyền thống, thời gian phơi sáng là cố định. Vai trò của Iris là điều chỉnh lượng ánh sáng đi qua lens. Có hai kiểu iris khác nhau trong các lens:
Iris được chỉnh tay
Iris trong lens được chỉnh tay thì thường được dùng khi camera được lắp đặt trong điều kiện ánh sáng ổn đinh. Các lens này không thể phản ứng với sự thay đổi cường độ ánh sáng vì thế iris được gắn với một “dải giá trị”, mỗi “giá trị” được dùng trong một điều kiện ánh sáng nhất định
Iris tự cân chỉnh ánh sáng
Trong điều kiện ngoài trời và nhưng nơi có ánh sáng thường xuyên thay đổi cường độ, một lens với iris có thể điều chỉnh tự động là một lựa chọn được ưu tiên.
Độ mở của iris được điều khiển bởi camera và là sự thay đổi liên tục để tối ưu mức sáng đi vào cảm biến ảnh.
DC-controlled iris: Được kết nối với đường ra của camera, iris được điều kiển với vi xử lý của camera.
Video-controlled iris: iris được điều khiển bởi tín hiệu video
F-number = Tiêu cự ống kính/Đường kính Iris
F-number của một lens là tỷ số giữa độ dài tiêu cự và đường kính lens . Nó ảnh hưởng đến lượng ánh sáng được chấp nhận đi vào cảm biến và đóng một vai trò quan trọng đối với hình ảnh thu được
F-number càng lớn thì lượng ánh sáng đi vào cảm biến càng nhỏ còn ngược lại thì lượng sáng vào cảm biến sẽ lớn và do đó chất lượng hình ảnh sẽ tốt hơn trong điều kiện ánh sáng yếu.Bảng dưới đây minh họa một số giá trị liên quan giữa f-number và lượng sáng được cảm biến hấp thụ:
Trong điều kiện ánh sáng hạn chế nên lắp một bộ lọc sắc trung tính phía trước lens. Việc này giảm lượng ánh sáng đi vào lens một cách đồng đều trên toàn bộ quang phổ hữu hình và buộc Iris mở gần như hoàn toàn để bù sáng. Nhiều loại camera ngày nay tích hợp bộ điều khiển iris tự động để đảm bảo rằng hình ảnh luôn rõ ràng quanh năm ngay cả khi cường độ ánh sáng bị thay đổi thường xuyên trong ngày
Tìm hiểu chuẩn nén H.264
Lịch sử
Đầu năm 1998, Video Coding Experts Group (VCEG - ITU-T SG16 Q.6) đã đưa ra một lời kêu gọi kiến nghị về một dự án gọi là H.26L, với mục tiêu tăng gấp đôi hiệu quả mã hóa (có nghĩa là giảm một nửa tỉ lệ bit cần thiết cho một đưa ra mức độ trung thực) so với bất kì mã hóa video hiện có khác tiêu chuẩn cho nhiều ứng dụng rộng rãi. VCEG được chủ trì bởi Gary Sullivan (Microsoft [trước đây là PictureTel], Hoa Kì). Thiết kế đầu tiên cho rằng dự thảo tiêu chuẩn mới được thông qua trong Tháng Tám năm 1999. Năm 2000, Thomas Wiegand (Heinrich Hertz Viện, Đức) đã trở thành VCEG đồng chủ tịch. Năm 2001 Tháng Mười Hai, VCEG và Moving Picture Experts Group (MPEG - ISO / IEC JTC 1 / SC 29/WG 11) đã thành lập một liên Video Team ( JVT ), với điều lệ để hoàn thiện các tiêu chuẩn mã hóa video. Phê duyệt chính thức của đặc tả đến tháng 3 năm 2003. Các JVT được (là) chủ trì bởi Gary Sullivan, Thomas Wiegand, và Ajay Luthra (Motorola, Hoa Kì). Trong tháng sáu năm 2004, các phần mở rộng phạm vi Fidelity (FRExt). Dự án đã được hoàn thành. Từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 11 năm 2007, các JVT được làm việc trên một phần mở rộng của H.264/AVC đối với khả năng mở rộng bởi một Phụ lục (G) được gọi là Scalable Video Coding (SVC). Các JVT đội ngũ quản lí đã được mở rộng bởi Jens-Reiner Ohm (Đại học Aachen, Đức). Kể từ tháng bảy năm 2006, các JVT hoạt động trên MultiView Video Coding (MVC), một phần mở rộng của H.264/AVC đối với quan điểm truyền hình miễn phí và truyền hình 3D.
Ứng dụng
H.264 được ứng dụng trong hầu hết trong các hình thức nén video kỹ thuật số từ HDTV, nhạc lossless, phim HD….
CCTV (Close Circuit TV) hay Video giám sát thị trường đã bao gồm công nghệ trong các sản phẩm nhiều. Trước khi công nghệ này, các định dạng nén được sử dụng trong ngành công nghiệp DVRs Digital Video Recorders nói chung chất lượng thấp ở khả năng nén. Với việc áp dụng công nghệ nén H.264 cho ngành công nghiệp giám sát video, chất lượng ghi hình trở nên cải thiện đáng kể. Bắt đầu từ năm 2008, một số trong ngành công nghiệp giám sát thúc đẩy công nghệ H.264 như đồng nghĩa với chất lượng cao (HD) video.
Lợi ích
Việc sử dụng chuẩn nén H.264 giúp giảm băng thông mạng và dung lượng sử dụng ổ cứng khi ghi hình, thực tế là giảm hơn 50% so với chuẩn MP4 nhưng chất lượng video vẫn giữ được chất lượng.
Hình bên dưới so sánh chất lượng giữa MPEG-2 và H.264(MPEG-4 part 10)
Công nghệ đám mây cho đầu thu PCMAX DVR
- Sự tiện dụng: giờ đây các kỹ thuật viên sẽ không còn phải mất thời gian cài đặt vào Modem hay các router của khách hàng nữa khi mà công nghệ mới đã cho phép chạy trực tiếp mà không cần forward cổng hay Nat port. Sự tiện dựng này có lẽ chỉ có các kỹ thuật viên là cảm nhận rõ dàng nhất khi không còn phải loay hoay với nhiều loại modem của khách hàng mỗi lần thiết bị của họ gặp sự cố hay họ thay thế thiết bị mới.
- Sự tiết kiệm: Trước đây với thế hệ DVR cũ khách hàng bắt buộc phải mua 1 tên miền để có thể truy cập từ xa với chi phí vài chục USD / năm hoặc sử dụng tên miền miễn phí thì không ổn định dẫn đến kém hiệu quả cho hệ thống camera giám sát. Với công nghệ đám mây của PCMAX DVR sự tiết kiệm đem đến không chỉ cho khách hàng mà còn có giá trị cho cả các kỹ thuật lắp đặt. Bởi lẽ với công nghệ mới các kỹ thuật viên sẽ giảm được những chi phí bảo hành, rủi do bởi các thiết bị khác có liên quan đến hoạt động của hệ thống camera giám sát như modem, tên miền... Sự tiết kiệm về thời gian khi thi công, lắp đặt cũng đem đến lợi ích đáng kể cho các kỹ thuật viên thay vì mất cả buổi như trước đây thì bây giờ họ có thể thực hiện trong một vài phút.
- Sự an toàn: Việc không phải phụ thuộc vào một bên cung cấp dịch vụ tên miền đã làm gia tăng tính an toàn vốn được ưu tiên hàng đầu cho một hệ thống giám sát an ninh.
Thế hệ đầu thu mới của PCMAX với công nghệ Cloud tiên tiến nhất hiện nay hứa hẹn sẽ làm hài lòng khách hàng đầu cuối cũng như các đại lý cung cấp dịch vụ.
- Sự tiện dụng: giờ đây các kỹ thuật viên sẽ không còn phải mất thời gian cài đặt vào Modem hay các router của khách hàng nữa khi mà công nghệ mới đã cho phép chạy trực tiếp mà không cần forward cổng hay Nat port. Sự tiện dựng này có lẽ chỉ có các kỹ thuật viên là cảm nhận rõ dàng nhất khi không còn phải loay hoay với nhiều loại modem của khách hàng mỗi lần thiết bị của họ gặp sự cố hay họ thay thế thiết bị mới.
- Sự tiết kiệm: Trước đây với thế hệ DVR cũ khách hàng bắt buộc phải mua 1 tên miền để có thể truy cập từ xa với chi phí vài chục USD / năm hoặc sử dụng tên miền miễn phí thì không ổn định dẫn đến kém hiệu quả cho hệ thống camera giám sát. Với công nghệ đám mây của PCMAX DVR sự tiết kiệm đem đến không chỉ cho khách hàng mà còn có giá trị cho cả các kỹ thuật lắp đặt. Bởi lẽ với công nghệ mới các kỹ thuật viên sẽ giảm được những chi phí bảo hành, rủi do bởi các thiết bị khác có liên quan đến hoạt động của hệ thống camera giám sát như modem, tên miền... Sự tiết kiệm về thời gian khi thi công, lắp đặt cũng đem đến lợi ích đáng kể cho các kỹ thuật viên thay vì mất cả buổi như trước đây thì bây giờ họ có thể thực hiện trong một vài phút.
- Sự an toàn: Việc không phải phụ thuộc vào một bên cung cấp dịch vụ tên miền đã làm gia tăng tính an toàn vốn được ưu tiên hàng đầu cho một hệ thống giám sát an ninh.
Ưu Điểm của công nghệ camera quan sát mới
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì công nghệ cho camera giám sát cũng được thay đổi và có nhiều ưu điểm hơn.
Hệ thống camera sẽ giám sát đảm bảo an ninh cho gia đình bạn
Rất
nhiều lựa chọn camera giám sát hiện nay khi mà công nghệ phát triển,
đáp ứng được hầu hết nhu cầu của người dùng. Lợi ích mà hệ thống camera
mang lại là điều không còn phải suy nghĩ. Nhưng cân nhắc và lựa chọn hệ
thống như thế nào cho phù hợp với bạn, hãy tham khảo một số ưu điểm của
camera quan sat sau đây:
- Camera không dây tránh nguy cơ kẻ trộm cắt dây, dễ dàng lắp đặt mà không cần phải khoan đục để đi dây
-
Công nghệ điện thoại thông minh cho phép bạn xem video, hình ảnh trực
tiếp của nhà bạn bất cứ nơi nào trên thế giới thay vì lo lắng về việc
thay đổi những cuốn băng video. Xem từ xa giúp bạn thuận tiện hơn rất
nhiều
-
Camera giám sát làm việc qua Internet thay vì thông qua một DVR, sẽ rất
gọn nhẹ, và không lo việc ai đó vô tình xóa mất dữ liệu
- Camera giám sát không dây di chuyển với bạn nếu bạn thay đổi nhà, bạn có di chuyển đến bất cứ đâu mà bạn muốn
- Thiết lập và cài đặt nhanh chóng.
Những
lợi ích này và nhiều hơn nữa được áp dụng cho cả camera ngoài trời và
camera trong nhà. Bạn có thể cảm nhận được sự an toàn tại bất chứ đâu
với những chiếc camera quan sát an ninh được trang bị công nghệ hiện
đại
Camera biết bay và ẩn nấp
Tumbleweed đủ nhỏ để nằm trong ba lô đeo lưng và chỉ mất vài giây để khởi động. Nó có khả năng truyền hình ảnh video trong thời gian thực tới một sĩ quan chỉ huy để người này phát hiện những hiểm họa có thể xảy ra đối với binh sĩ dưới quyền, trước khi các tay súng đối phương hoặc những người đánh bom thực hiện một vụ tấn công. Sĩ quan chỉ huy làm được điều này nhờ một phần mềm nhận dạng khuôn mặt.
Binh sĩ Anh tại Iraq và Afghanistan thường phải tuần tra trên những đường phố nhỏ hẹp hoặc khu dân cư nhiều tường đất - rất lý tưởng cho đối phương trong việc tổ chức đánh phục kích hoặc đặt bom. Quân đội Anh đang sử dụng nhiều thiết bị do thám không người lái trên không. Một trong những thiết bị nổi bật là Desert Hawk, loại máy bay siêu nhỏ có thể cất cánh trong vài phút và đạt độ cao tối đa khoảng 150 m. Nó được trang bị một camera để truyền hình ảnh thực địa về trung tâm chỉ huy.
"Điều khiển những thiết bị do thám không người lái trên không là việc không dễ do chúng thường phải bay gần mặt đất, len lỏi qua các tòa nhà và bị cản trở bởi những cơn gió. Thay vì sử dụng cánh quạt, Tumbleweed được trang bị sáu động cơ đẩy để di chuyển. Cần số cho phép người điều khiển thay đổi sức đẩy trong vài giây, vì thế nó có thể di chuyển theo mọi hướng. Nó cũng bay như trực thăng nhưng cũng có khả năng đáp xuống mặt đất, nhờ đó có lợi thế hơn máy bay do thám trong việc phát hiện mục tiêu trong các thành phố", tiến sĩ Bill Crowther, trưởng nhóm thiết kế, nói.
Với chiều ngang hơn 0,9 m, Tumbleweed đủ nhỏ để lọt qua một ô cửa và có thể đạt tốc độ 48 km/h. Động cơ của nó êm đến nỗi người ta khó mà nghe thấy tiếng động cơ trên đường phố đông đúc.
Các quan chức cao cấp trong Bộ Quốc phòng Anh hy vọng chi phí sản xuất những camera quan sát như Tumbleweed sẽ không quá cao để họ có thể giảm được thiệt hại về người ở Afghanistan và nhiều vùng chiến sự khác.
Công nghệ quan sát bằng camera
Ứng theo từng loại camera là sự phát triển của các loại đầu thu tín hiệu và các công nghệ xem - điều khiển
Với nhu cầu đơn giản, người sử dụng chỉ cần xem, quan sát theo dõi hoạt động của nhân viên, mọi người trong gia đình thì chỉ cần sử dụng camera thường, hoặc loại chuyên nghiệp kết hợp với đầu thu tín hiệu camera kỹ thuật số và màn hình chuyên dụng hoặc ứng dụng kết nối thẳng vào ti vi trong nhà để theo dõi mọi hoạt động. Ưu điểm của loại này là thao tác đơn giản, lắp đặt gọn nhẹ, và có thể kết hợp với bàn điều khiển camera chuyên dụng để xem. Người sử dụng không cần am hiểu nhiều kỹ thuật, chỉ cần quan sát và điều chỉnh thông thường như sử dụng các loại ti vi, đầu máy xem phim. Hơn nữa, đầu ghi kỹ thuật số sử dụng ổ cứng bên trong như máy vi tính nên có chức năng ghi hình toàn bộ thời gian và chép ra đĩa DVD cần thiết để lưu trữ theo từng ngày, tháng. Chức năng chia hình cho phép một màn hình ti vi có thể xem được cùng lúc từ 4 - 8 hoặc 16 camera cùng lúc, tối đa là 32 camera với loại đầu cao cấp.
Với nhu cầu cao cấp hơn, người sử dụng thiết lập hệ thống camera với loại máy vi tính được trang bị card ghi hình và bắt tín hiệu camera. Ưu điểm của loại này là có thể kết hợp với những loại camera quan sát qua mạng, những loại điều khiển bằng phần mềm có thể phóng to, thu nhỏ hoặc theo dõi đối tượng từ xa. Tuy nhiên, loại này đòi hỏi người sử dụng cần phải biết những kỹ thuật điều khiển cơ bản về máy vi tính, biết thao tác cài đặt phần mềm hoặc sử dụng mạng để quan sát từ xa. Máy vi tính kết nối với card ghi hình và bắt tín hiệu camera phải là loại máy riêng biệt, không nên kết hợp sử dụng máy cho công việc, giải trí, và làm camera do máy vi tính khi sử dụng làm
camera đòi hỏi phải tập trung xử lý tín hiệu hình ảnh nếu làm nhiệm vụ đa năng sẽ hoạt động không ổn định có thể gây treo máy từ lỗi đụng chạm phần mềm bên trong máy.
Thông thường camera sử dụng để quan sát có nhiều loại như
Camera không dây
Hoạt động trên tần số từ 960 - 1600 Mhz. Khoảng cách từ 50m - 100m. Kích thước từ lớn đến rất bé (nút áo). Rất tiện cho khu vực không thể đi dây, cần che giấu, nguỵ trang…
Mini Camera

Kích thước nhỏ và rất nhỏ. Dùng lắp đặt những nơi mà người sử dụng không muốn người khác biết đang bị giám sát. Có thể nguỵ trang trong tượng, tranh, đồng hồ… Có màu và nghe được âm thanh.
IP camera

Camera quan sát qua mạng, không cần gắn vào máy vi tính. Thích hợp cho quan sát từ bất cứ nơi đâu phù hợp với những người có nhu cầu làm việc từ xa, theo dõi hoạt động, giám sát nhân viên hoặc mọi người. Thậm chí có thể điều khiển bằng giọng nói nhằm trao đổi với nhân viên.
Loại chuyên nghiệp

Gắn ống kính lens, có tầm nhìn theo thông số ống kính (rộng, hẹp), ưu điểm rõ nét dùng lắp đặt tại các cơ quan nhiều người, khu vực hành lang, những nơi công cộng…
IR day/night Camera

Camera hồng ngoại màu tự động cân bằng độ sáng chói của ngày và đêm. Sử dụng trong trường hợp nơi quan sát ánh sáng yếu hoặc không có ánh sáng vẫn có thể nhìn rõ mọi vật với hình ảnh trắng đen. Dùng lắp đặt cho kho hàng, bãi giữ xe, cổng ra vào nhà máy, xưởng, xí nghiệp, nhà biệt thự.
PTZ Camera: (Pan Til Zoom)

Có khả năng điều chỉnh phóng to, thu nhỏ, kéo xa - gần, nhờ vào ống kính quang học (optical) và điều khiển kỹ thuật số. Loại này được chia làm hai nhóm nhỏ là:
Với nhu cầu đơn giản, người sử dụng chỉ cần xem, quan sát theo dõi hoạt động của nhân viên, mọi người trong gia đình thì chỉ cần sử dụng camera thường, hoặc loại chuyên nghiệp kết hợp với đầu thu tín hiệu camera kỹ thuật số và màn hình chuyên dụng hoặc ứng dụng kết nối thẳng vào ti vi trong nhà để theo dõi mọi hoạt động. Ưu điểm của loại này là thao tác đơn giản, lắp đặt gọn nhẹ, và có thể kết hợp với bàn điều khiển camera chuyên dụng để xem. Người sử dụng không cần am hiểu nhiều kỹ thuật, chỉ cần quan sát và điều chỉnh thông thường như sử dụng các loại ti vi, đầu máy xem phim. Hơn nữa, đầu ghi kỹ thuật số sử dụng ổ cứng bên trong như máy vi tính nên có chức năng ghi hình toàn bộ thời gian và chép ra đĩa DVD cần thiết để lưu trữ theo từng ngày, tháng. Chức năng chia hình cho phép một màn hình ti vi có thể xem được cùng lúc từ 4 - 8 hoặc 16 camera cùng lúc, tối đa là 32 camera với loại đầu cao cấp.
Với nhu cầu cao cấp hơn, người sử dụng thiết lập hệ thống camera với loại máy vi tính được trang bị card ghi hình và bắt tín hiệu camera. Ưu điểm của loại này là có thể kết hợp với những loại camera quan sát qua mạng, những loại điều khiển bằng phần mềm có thể phóng to, thu nhỏ hoặc theo dõi đối tượng từ xa. Tuy nhiên, loại này đòi hỏi người sử dụng cần phải biết những kỹ thuật điều khiển cơ bản về máy vi tính, biết thao tác cài đặt phần mềm hoặc sử dụng mạng để quan sát từ xa. Máy vi tính kết nối với card ghi hình và bắt tín hiệu camera phải là loại máy riêng biệt, không nên kết hợp sử dụng máy cho công việc, giải trí, và làm camera do máy vi tính khi sử dụng làm
camera đòi hỏi phải tập trung xử lý tín hiệu hình ảnh nếu làm nhiệm vụ đa năng sẽ hoạt động không ổn định có thể gây treo máy từ lỗi đụng chạm phần mềm bên trong máy.
Thông thường camera sử dụng để quan sát có nhiều loại như
Camera không dây
Hoạt động trên tần số từ 960 - 1600 Mhz. Khoảng cách từ 50m - 100m. Kích thước từ lớn đến rất bé (nút áo). Rất tiện cho khu vực không thể đi dây, cần che giấu, nguỵ trang…
Mini Camera
Kích thước nhỏ và rất nhỏ. Dùng lắp đặt những nơi mà người sử dụng không muốn người khác biết đang bị giám sát. Có thể nguỵ trang trong tượng, tranh, đồng hồ… Có màu và nghe được âm thanh.
IP camera
Camera quan sát qua mạng, không cần gắn vào máy vi tính. Thích hợp cho quan sát từ bất cứ nơi đâu phù hợp với những người có nhu cầu làm việc từ xa, theo dõi hoạt động, giám sát nhân viên hoặc mọi người. Thậm chí có thể điều khiển bằng giọng nói nhằm trao đổi với nhân viên.
Loại chuyên nghiệp
Gắn ống kính lens, có tầm nhìn theo thông số ống kính (rộng, hẹp), ưu điểm rõ nét dùng lắp đặt tại các cơ quan nhiều người, khu vực hành lang, những nơi công cộng…
IR day/night Camera
Camera hồng ngoại màu tự động cân bằng độ sáng chói của ngày và đêm. Sử dụng trong trường hợp nơi quan sát ánh sáng yếu hoặc không có ánh sáng vẫn có thể nhìn rõ mọi vật với hình ảnh trắng đen. Dùng lắp đặt cho kho hàng, bãi giữ xe, cổng ra vào nhà máy, xưởng, xí nghiệp, nhà biệt thự.
PTZ Camera: (Pan Til Zoom)
Có khả năng điều chỉnh phóng to, thu nhỏ, kéo xa - gần, nhờ vào ống kính quang học (optical) và điều khiển kỹ thuật số. Loại này được chia làm hai nhóm nhỏ là:
- Dome Camera: dạng tròn dùng lắp đặt trên trần nhà. Thích hợp lắp đặt tại các siêu thị và văn phòng với góc quay 360 độ, và cận cảnh khi cần thiết ở nhiều vị trí khác nhau.
- Speed - Dome Camera: cao cấp hơn, tốc độ điều khiển nhanh, lấy cận
cảnh với tầm hoạt động chính xác theo từng góc. Sử dụng ở các sân bay
theo dõi được cho từng trường hợp đối tượng và có thể nhớ nhiều vị trí
góc quay thiết lập sẵn mà không cần điều khiển nhiều.
- Yêu cầu sử dụng máy vi tính kết hợp với camera không dây thông qua một thiết bị trung gian là thiết bị phát tín hiệu không dây.
- Máy vi tính được kết nối mạng internet 24/24 qua modem ADSL, khi đó
kỹ thuật sẽ thiết lập một trang web cơ bản với thông số xác định để nhận
diện máy vi tính có camera. Kế đến người sử dụng dù ngồi bất cứ ở đâu
chỉ cần gõ địa chỉ trang web được tạo là có thể thấy được camera thông
qua máy vi tính được thiết lập sẵn.
Công nghệ camera quan sát hiện nay và tương lai
Camera thông minh
Camera quan sat ngày càng trở nên thông minh hơn ngoài việc có thể phát hiện chuyển
động, còn có tác nhân chính là video phân tích. Với công nghệ này cho
phép camera có thể nhận biết và bám các đối tượng. Camera có thể được
lập trình với Video phân tích để nhận dạng súc vật hay người đang di
chuyển vào khu vực cần giám sát. Chúng có thể nhận dạng được cả việc hai
người đang ôm nhau âu yếm hay đánh nhau vật lộn. Chúng có thể xác định
các danh trộm cắp trong cửa hàng, như lấy cả lô trong một mục mua hàng.
Chúng cũng có thể nhận dạng một người nào đó đang giữ thẻ tín dụng hay
đang rút súng. Thật sự không có giới hạn về việc Video phân tích có thể
“nhìn” và phản ứng. Trong thực tế bằng trí khôn nhân tạo, sắp tới có thể
camera quan sát cả tháng một bối cảnh nào đó và cảm nhận bình thường
hay không bình thường và phản ứng phù hợp.
Tất nhiên trong trường hợp như thế này Camera là một phần của máy tính, được hiểu là Camera mạng IP.
Một
lý do Video phân tích (và camera mạng IP) cất cánh trong những năm qua
vì chúng cung cấp sự bổ sung cho đội ngũ bảo vệ để quan sát màn hình
hàng tiếng đồng hồ đến cả ngày. Đội ngũ an ninh sẽ trở nên hiệu quả hơn
nếu camera làm nhiệm vụ quan sát còn những người gác giữ sàn và sãn sàng
hành động. Cảnh báo từ camera có thể gửi đến bảo vệ theo điện thoại bàn
hay thiết bị cầm tay.
Nhiều
loại Video phân tích như nhận dạng mặt, đếm người để điều khiển đám
đông, tự động phóng to để đọc biển xe đã trở thành thương phẩm. Điểm mới
ở đây là video phân tích đã ra khỏi “khoa học kinh nghiệm” để trở thành
công cụ nghiêm túc dùng cho nhiều tổ chức trên thế giới.
Trí tuệ chuyển xuống vùng ngoại vi
Video
phân tích thương phẩm bắt đầu là công nghệ chạy trên Server gắn liền
với Camera. Việc có nhiều tính năng Video phân tích tích hợp sẵn trong
camera mang lại nhiều ý nghĩa hơn. Chúng đưa trí tuệ ra vùng biên của
mạng nhiều hơn ở vùng tâm. Bằng con đường này ta không cần phải cấp
video từ hàng trăm camera vào trung tâm dữ liệu để phân tích và làm quá
tải băng thông và nhiều máy chủ. Với phân tích ở ngoại vi, một máy chủ
có thể xử lý được nhiều camera. Trên thực tế mỗi camera hoạt động như có
máy chủ riêng. Trong nhiều cài đặt camera được lập trình để ghi một
cách liên tục, nhưng chỉ lưu dữ liệu trước khi, trong và sau khi một sự
kiện. Video có thể được truyền về máy chủ trung tâm để lưu trữ an toàn.
Vận chuyển chi những Video nào thuộc loại quan tâm sẽ giảm cả hai yêu
cầu về vận chuyển qua mang và bộ nhớ dữ liệu.
Những
lợi thế về việc đẩy phân tích ra ngoại vi còn bao gồm cả khả năng thu
nhận và phân tích hình ảnh phân giải cao tại nguồn và giảm các cảnh báo
sai làm mất thời gian. Vì không cần tải liên tục Video về máy chủ, chúng
ta có thể triển khai các camera chất lượng cao hơn. Những camera có
chất lượng cao cho phép video phân tích tốt hơn tại nguồn. Kết quả là ít
hơn các cảnh báo sai băng việc nhận dạng chính xác sự cố.
Cánh cửa rộng mở cho trắc sinh học (biometrics)
Trắc
sinh học là phương pháp nhận dạng làm việc bằng đo các đặc tính thống
nhất của con người để nhận dạng. Thí dụ như vân tay hay quét nồng tử,
kiểm tra chữ ký động, nhận biết khuôn mặt. Tương lai của trắc sinh học
lưu giữ hy vọng cho các ứng dụng thi hành pháp luật và cả các ứng dụng
công nghiệp tư nhân. Bằng việc đo hình học khuôn mặt, các hệ thống video
giám sát có thể nhận dạng các đặc điểm sai khác với những gì đã lưu
trong cơ sở dữ liệu an ninh.
Các
sản phẩm trắc sinh học không còn là khoa học viễn tưởng nữa. Thực tế
cho thấy rằng chúng là một bộ phận quan trọng trong ngành công nghiệp an
ninh. Trắc sinh học sẽ cung cấp anh ninh tuỵệt vời tại cửa kiểm tra,
bảo vệ chống đột nhập xe hơi, máy tính và trạm điện thoại và cho phép
các cổng không cần gác mà vẫn nhận dạng được tất cả mọi người đến và đi.
Sắp
tới các hệ thống nhận dạng mặt người sẽ ra đời, chúng dùng camera giám sát nguỵ trang để theo dõi ở cửa ra vào toà nhà. Những hệ thống này nhận
dạng chính xác ngay những đặc điểm tiểm tàng hay khủng bố khi so với
hàng triệu bức ảnh trong cở sở dữ liệu ít hơn một giây. Cảnh báo được
gửi đến cán bộ an ninh tức thời.
Tích
hợp với hệ thống thẻ ra vào đã là một thực tế. Thay vì nhân viên bảo vệ
phải chịu trách nhiệm so sánh khuôn mặt với thẻ chứng minh thư đã được
quét, thì camera giám sát thực hiện việc này.
Quản lý tốt hơn
Xu
hướng phần mềm quản lý video giám sát là cung cấp một giải pháp tổng
thể cho phép quản lý động các camera từ bất cứ đâu trên mạng và đưa đến
cho người quyết định hay các thiết bị (như điện thoại hat PDA) các báo
động, cảnh báo và các video liên quan. Việc này giải phóng sức mạnh phối
hợp hành động hiệu quả và phản ứng kịp thời với các tình trạng khẩn
cấp.
Phần mềm quản lý video giám sát của Pelco hay của Milestone cung cấp nhiều tính năng tiên tiến như:
Khả năng hỗ trợ không giới hạn camera quan sát, thiết bị, ngưòi dùng và máy chủ.
Điều
khiển hoạt động cả ngày từ một giao diện đơn. Các camera, các thiết bị
và người dùng có thể được quản lý từng nhóm, loại bỏ nhiều thao tác lập
lại tốn kém thời gian.
Giao diện trực quan đơn giản hoá cấu hình và quản lý các lắp đặt lớn và phức tạp.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
